Đến nội dung

Chào bạn đến với CLB Vươn Tới Thành Công
Tham gia ngay để có được quyền truy cập vào tất cả các tính năng của diễn đàn. Sau khi đăng ký và đăng nhập, bạn sẽ có thể tạo chủ đề, bài trả lời cho chủ đề hiện có, kết bạn, chat với các thành viên khác, nhận được tin nhắn của riêng cá nhân của bạn và nhiều hơn nữa. Nếu bạn đã có tài khoản, đăng nhập tại đây, - nếu không, hãy đăng ký nhanh chóng tại đây!
Hình ảnh

[Thảo Luận] Trung tâm giải đáp các câu hỏi về Thế Giới Động Vật - Thực Vật

* * * * * 1 Bình chọn

  • Please log in to reply
57 replies to this topic
  •  Tôi Tài Giỏi!
  • 82 bài viết
  • 68 cảm ơn
  • Quản đốc
  • Last active: 09/06/2013 04:19 PM
  • Joined: 23/06/2012
_Bọ chét và rận:
+Là loài côn trùng nhỏ không cánh sống trên loài chim và loài có vú, bao gồm con người. Chó, mèo và chuột dễ bị bọ chét.
+Bọ chét và rận hút (sucking lice) hút máu kẻ mà nó sống nhờ.
+Rận cắn (chewing lice) sống trên da và lông của kẻ mà nó sống bám vào. Rận cắn không sống trên con người.
+Bọ chét trưởng thành dài tới trên 2mm.
+Một con bọ chét có thể nhảy bật lên 30cm- tương đương 1 người nhảy lên không trung 200m.
+Bọ chét lây lan bằng cách nhảy từ con vật này tới nhân vật khác để hút máu.
+Khi bọ chét đẻ trứng, trứng nở thành ấu trùng và bò vào ổ nằm của động vật, nơi đó chúng kéo tơ và xuất hiện thành con trưởng thành sau 2 tuần.
+Chí (head lice) làm trứng dính vào tóc và lan từ đầu người này sang người khác do dùng chung lược và nón.
+Bọ chét nhảy bật bằng một lực với sức nặng 140 gram- trên 20 lần điều kiện để phóng 1 tên lửa.
+Chí có chiều dài cơ thể từ 2- 3mm. Một khi bộ chân giống như cua và vuốt có móc của nó bám vào tóc hay da của nạn nhân thì khó di chuyển hơn là 1 con hà (limpet) trên tảng đá ở biển.

  •  Tôi Tài Giỏi!
  • 82 bài viết
  • 68 cảm ơn
  • Quản đốc
  • Last active: 09/06/2013 04:19 PM
  • Joined: 23/06/2012
_Hải ly:
+Hải ly ra đời có bản năng xây đập bẩm sinh. Trong sở thú, chúng thường xuyên sửa chữa những đập bê tông bằng các cành cây nhỏ.
+Hai con hải ly trưởng thành phải mất khoảng 15' để gặm thành con đường xuyên qua 1 thân cây có đường kính 10cm.
+Hải ly mẹ đẩy những con đứa con mệt mỏi phía trước nó xuyên qua nước như những cái phao bơi.
+Nhờ dự trữ ôxygen dư trong phổi và các mô, con hải ly có thể ở dưới nước trong vòng 15' liền.
+Hải ly dùng móng vuốt chẻ ở đôi chân sau để chải lông và quét dầu không thấm nước.
+Hải ly báo hiệu sự nguy hiểm bằng cách vỗ nước bằng đuôi.Tiếng ồn vang xa trên 1 cây số.
+Chất tiết ra của loài hải ly đánh dấu lãnh thổ có chứa thành phần chính trong thuốc giảm đau aspirin.
+Đập nước của con hải ly và hang của nó có thể giúp tạo ra môi trường cho cá.
+Ở vài nơi tr6en nước Mỹ, hải ly được thả dù vào các vùng có những con sông xa xôi cần đắp đập để giảm sự xói mòn.
+Hải ly dùng răng cửa không lồ để gặm xuyên qua các cành và thân cây.
+Hải ly châu Âu đã từng sống hang để tránh thợ săn. Bây giờ chúng được luật pháp che chở.

  •  Tôi Tài Giỏi!
  • 82 bài viết
  • 68 cảm ơn
  • Quản đốc
  • Last active: 09/06/2013 04:19 PM
  • Joined: 23/06/2012
_Những loài côn trùng có độc:
+Ngòi chích của ong và ong bắp cày có ngạnh ở phần trên cùng để giữ ngòi chích đủ lâu khi tiêm chất độc vào vật khác. Ong mật không thể kéo ngạnh ra khỏi da con người nên ngạnh bị xé rời và ong chết.
+Kiến nhung (velvet ant) thực sự không phải là kiến mà là ong bắp cày không cánh có vòi chích. Nó ghê gớm đến nỗi còn đc gọi là con "cow killer" (kẻ giết bò).
+Con bọ rùa (ladybird) tạo ra chất độc trên đầu gối của chúng.
+Khi bị tấn công, sâu bướm đuôi nhạn quất ra 1 miếng hình nĩa có mùi hôi từ cái túi phía sau đầu và đập thứ đó vào kẻ tấn công.
+Con châu chấu thì khi bị tấn công sẽ rỉ ra chất bọt có mùi hôi từ miệng và ngực.
+Bọ cánh cứng pháo thủ (bombardier beetle) phun ra 1 luồng chất lỏng từ phía sau như 1 khẩu súng phun nhỏ. Điều này làm giật mình và đau kẻ tấn công và cung cấp ít thời gian cho con bọ tẩu thoát.

Lần sau sẽ là bài viết về cá heo các bạn nhé!

crystal.apple25
  • Thành viên chính thức
  • 70 bài viết
  • 36 cảm ơn
  • Quản đốc
  • Last active: 22/09/2013 10:27 AM
  • Joined: 16/09/2012
mình có thắc mắc đây: loài vật có... zì hơi không nhỉ Hình gởi

  •  Tôi Tài Giỏi!
  • 82 bài viết
  • 68 cảm ơn
  • Quản đốc
  • Last active: 09/06/2013 04:19 PM
  • Joined: 23/06/2012
Có đấy bạn ạ! Bạn đọc tham khảo phần này nhé:

Có khoảng hơn 1 tỷ con bò trên hành tinh của chúng ta. Nếu điều này chưa đủ gây ấn tượng cho bạn thì có lẽ thông tin sau đây có thể khiến bạn phải…bịt mũi: Khẩu phần ăn toàn cỏ của chúng khiến cho khí methane sản sinh rất nhiều trong dạ dày; vì vậy chúng phải thường xuyên thải khí này ra ngoài bằng cách…đánh rắm và ợ. Một con bò có thể thải ra đến gần 2 lít khí methane mỗi phút. Có thể bạn cho rằng như vậy thật “đáng hổ thẹn”, nhưng với lượng thức ăn khoảng 40kg mà mỗi con bò có thể tiêu thụ mỗi ngày thì “sản lượng" như vậy không có gì là quá “ghê gớm”.

Và các "thói hư tật xấu" của 1 số loài vật:

Hươu cao cổ
Với chiều cao hơn 6m và cân nặng 1,3 tấn, kích thước của những gã này thật sự đáng nể. Thế nhưng những anh chàng trông có vẻ đỏm dáng trên lại khiến bạn mất cảm tình ngay lập tức vì lúc nào các gã cũng ở trong tình trạng lòng thòng nước dãi, đó là chưa kể đến một cái lưỡi dài đến hơn 45 cm. Nếu không xét đến tính kinh dị về mặt thẩm mỹ của chiếc lưỡi này thì đây là một công cụ đắc lực giúp chúng tuốt lá ở những cành cao, và tuyến nước bọt “khủng” của chúng sẽ giúp dễ tiêu hóa lá cây hơn. Ngoài ra, một “tật xấu” kinh dị khác của hươu cao cổ là chúng còn dùng lưỡi để ngoáy mũi.

Hà mã
Loài động vật to xác này có nhiều đặc điểm khá đặc biệt như cân nặng đến gần 2 tấn, thân hình không phủ lông và sở thích tắm bùn để bảo vệ làn da nhạy cảm của mình. Nhưng những đặc điểm trên cũng không thể sánh với sở thích kỳ quặc và rất “mất vệ sinh” của chúng: Sau khi tắm bùn xong chúng sẽ trồi lên và dùng hỗn hợp nước tiểu và phân của mình để ném vào nhau. Hành động này được cho là để làm mất mặt đối thủ cạnh tranh và để đánh dấu lãnh thổ của mình.

Chó rừng
Gu ẩm thực của chó rừng có thể khiến bạn...buồn nôn. Món ăn yêu thích của chúng là thịt thối đã phân hủy lâu ngày. Khi sư tử hoặc cọp đã no nê với chiến lợi phẩm của mình, đây là lúc chó rừng lượn lờ để “hưởng sái” phần dư thừa. Thói quen ẩm thực này đã được hình thành từ khi chúng còn nhỏ. Những con bố mẹ sẽ nuôi con của mình bằng cách nôn thức ăn và cho con của chúng ăn; và nếu những đứa con đã no nê mà thức ăn vẫn còn dư thì bố mẹ chúng sẽ chẳng ngại mà ăn lại hết số bã nôn đó.

Dê núi Tahr
Loài dê núi Tahr sống ở phía Nam Ấn Độ. Vào mùa sinh sản, con cái sẽ báo hiệu cho con đực biết rằng nàng đang “có hứng" bằng cách…tè lên người anh chàng. Thật là một dấu hiệu “gợi cảm" và “đáng yêu” biết bao!

Gấu Koala
Gấu Koala ngủ 22 tiếng một ngày và chúng chỉ ăn duy nhất lá cây khuynh diệp – một loại lá đầy độc tố. Bí quyết để chúng có thể tiêu hóa được loại thức ăn này mà vẫn bình an vô sự là nhờ vào một loại vi khuẩn đặc biệt sống trong hệ tiêu hóa giúp chúng khử hết độc tố của lá cây. Tuy nhiên, lúc mới sinh, gấu con lại không có sẵn loại “thuốc giải độc này”; cơ chế giải độc độc đáo này được hình thành từ từ thông qua việc ăn thức ăn do gấu mẹ…nôn ra. Tuy có hơi kinh khủng một chút, nhưng đây rõ ràng là một cách tiêm chủng khá hiệu quả.

Hải sâm
Tuy có họ hàng với loài sao biển nhưng hải sâm không có được vẻ ngoài đáng yêu như người họ hàng của mình. Khi trưởng thành hình dạng của chúng trông như một cây xúc xích mập ú. Thức ăn của chúng là phân và xác động vật chết trôi nổi trong nước biển. Mỗi năm chúng xử lý được khoảng 140 kg loại “rác thải” kể trên.Điều ngạc nhiên là, mặc dù chúng có khẩu phần ăn kinh dị như vậy nhưng ở một số nơi trên thế giới chúng vẫn được xem là một món cao lương mỹ vị có tác dụng làm tăng khả năng tình dục. Có lẽ là do đặc điểm các con đực của loài này phóng tinh trùng vào nước biển để thụ tinh cho con cái chăng?

Cá mút đá
Hình gởi
Hải sâm tuy có hình thù “sởn da gà” nhưng nếu so với cá mút đá thì nó vẫn còn đẹp chán! Là một trong những loài có “nhan sắc” tệ nhất dưới biển, cá mút đá vừa mù vừa móm (nó không có 1 cái răng nào) và lại còn có gu ẩm thực “tinh tế”: Xác động vật. Nó sẽ chui vào bất cứ cái lỗ nào nó tìm thấy trên xác con vật và rỉa từ trong ra ngoài. Ngoài ra cơ thể chúng rất nhầy nhụa. Chất nhầy này được sử dụng như một hệ thống phòng thủ: Khi bị tấn công chúng có thể tiết ra tới hơn 7 lít dịch nhầy này.

Kền kền
Kền kền là đại diện điển hình cho chế độ ăn xác thối. Một trong những đặc điểm của kền kền là đầu thường trọc, không có lông do tập quán ăn thịt xác chết bằng cách thò cả đầu vào xác con vật để ăn thịt nên đầu bị dính máu và dịch xác con mồi, nếu có lông thì sẽ bị dính và khó làm sạch. Đặc điểm này giúp kền kền rửa sạch đầu nhanh chóng ở các con sông gần đấy. Kền kền ít khi tấn công một con thú khỏe mạnh nhưng có thể giết chết những con bị thương hay bị bệnh. Chúng nuốt ngấu nghiến thức ăn khi thức ăn còn thừa thãi cho đến lúc diều căng phồng và ngồi xuống ngủ hoặc gật gù như ngủ để tiêu hóa thức ăn. Chúng không tha thức ăn cho những con chim non của chúng mà ọe ra từ diều để nuôi con. Tập quán ăn uống của loài chim này giúp làm sạch môi trường, đặc biệt là ở những xứ nóng.

Ruồi
Mặc dù được các nhà khoa học đánh giá là loài côn trùng tiến hóa nhất trong thế giới côn trùng, nhưng ruồi cũng có nhiều tập quán sinh hoạt “kém văn minh”. Với sở thích ăn phân động vật, cơ thể chúng lúc nào cũng ngập ngụa các loại vi khuẩn. Khi chúng lẩn quẩn bên bàn ăn, chúng không chỉ "nếm" một chút mà thật sự là chúng…nôn lên đó. Khi đậu lên thức ăn, chúng sẽ nôn ra các loại men tiêu hóa và nước bọt nhằm biến thức ăn đó thành một thứ dịch lỏng để chúng dễ dàng hút qua cái miệng hình ống. Khi không hút hết chỗ thức ăn đã “chế biến” đó, chúng sẽ để lại cho…chúng ta. Đến mùa sinh sản, chúng sẽ đẻ trứng vào những nơi có thịt thối như xác thú vật; những trứng này sẽ nở thành giòi và tiếp tục vòng đời.

Bạn thấy sao? ^-^

Bài viết này đã được chỉnh sửa bởi duongnguyet: 21/09/2012, 08:07 PM


  • Thành viên chính thức
  • 124 bài viết
  • 22 cảm ơn
  • Nhà quản lý
  • Last active: 4 phút trước
  • Joined: 13/08/2011
bạn có hình ảnh của loài gấu koala không..cho mình coi vài bức đi :D

  •  Tôi Tài Giỏi!
  • 82 bài viết
  • 68 cảm ơn
  • Quản đốc
  • Last active: 09/06/2013 04:19 PM
  • Joined: 23/06/2012

bạn có hình ảnh của loài gấu koala không..cho mình coi vài bức đi :D


Okay! Xin mời:

Hình gởi

Hình gởi

Hình gởi

Hình gởi

Hình gởi

  • Thành viên chính thức
  • 124 bài viết
  • 22 cảm ơn
  • Nhà quản lý
  • Last active: 4 phút trước
  • Joined: 13/08/2011
hìhii dể thương gê

crystal.apple25
  • Thành viên chính thức
  • 70 bài viết
  • 36 cảm ơn
  • Quản đốc
  • Last active: 22/09/2013 10:27 AM
  • Joined: 16/09/2012
Hình gởi hèn gì

  •  Tôi Tài Giỏi!
  • 82 bài viết
  • 68 cảm ơn
  • Quản đốc
  • Last active: 09/06/2013 04:19 PM
  • Joined: 23/06/2012
_Hải cẩu và sư tử biển:
+Hải cẩu, sư tử biển và móoc (walrus) là loài có vú biển chủ yếu sống trong nước vì là những con vật bơi nhanh, nhưng đi lạnh bạch, lắc lư, vụng về trên cạn.
+Phần lớn các loài hải cẩu ăn cá, mực và loài sò, hến, tôm, cua. "Hải cẩu ăn cua" (crabeater seal) lại chủ yếu ăn tôm chứ không phải cua.
+Hải cẩu và sư tử biển có tai, nhưng chỉ có sư tử biển và hải cẩu có lông mao mới có nắp tai.
+Chỉ có sư tử biển mới có thể di chuyển chân chèo sau (flipper) dưới thên khi đi trên cạn.
+Khi hải cẩu lên bờ để sinh sản, chúng sống thành bầy lớn trong nhiều tuần gọi là rookery (bầy hải cẩu).
+Con moóc lớn và kềnh càng hơn hải cẩu, chúng có ranh năng to và ria cứng.
+Hải cẩu voi có thể sống 8 tháng ngoài biển khơi, lặn liên tục với mỗi lần lặn kéo dài khoảng 20' hoặc lâu hơn.
+Có loài hải cẩu nước ngọt ở hồ Baikal thuộc nước Nga.
+Con hải cẩu báo đốm dài 4m ở Nam Cực ăn thịt những con chim cánh cụt và thậm chí, nó ăn cả các con hải cẩu khác.

Lần sau sẽ là bài viết về rùa biển và rùa cạn, mời pà con cùng đón đọc!

  •  Tôi Tài Giỏi!
  • 82 bài viết
  • 68 cảm ơn
  • Quản đốc
  • Last active: 09/06/2013 04:19 PM
  • Joined: 23/06/2012
_Cá heo:
+Các nhóm cá heo thường đi lại và ăn cùng nhau, có thể đếm tới 2000 con.
+Cá kình còn gọi là cá voi sát thủ, thực sự chúng là loài cá heo lớn nhất, mặc dù chúng ăn các loài cá heo khác.
+Có 5 loài cá heo nước ngọt sống ở các vùng sông châu Á và Nam Mỹ. Đa số chúng bắt cà bằng âm thanh hơn thị giác.
+Cá heo giúp đỡ con người bằng cách giữ họ nổi trên mặt nước và tránh khỏi những con cá mập tấn công.
+Cá heo xoay (spinner dolphin) đc đặt tên theo những cú nhảy nhào lộn mà chúng thực hiện, xoay mình 7 lần trong không trung.
+Cá heo lưng gù Đại Tây Dương giúp các ngư phủ ở Tây Phi bằng cách lùa những bầy cá mullet (cá phèn, cá đối) vào lưới.
+Ở Mexico's Baja California, cá heo có mũi hình chài đuổi cá lên bờ rồi lăn tròn trên bãi biển, hoàn toàn ra khỏi nước để chộp lấy con mồi.
+Những nhà quan sát quân sự đã có lần ghi nhận 1 nhóm cá heo bơi vận tốc 64 km/giờ trong làn sóng vòng cung của một tàu chiến.
+Cá heo sọc đc nhìn thấy trong những bức tranh Hy Lạp cổ đại, nhảy lên tới 7 mét để trình diễn nhào lộn và xoay vòng.
+Cá heo Yangtze còn gọi là Baiji, là 1 trong những loài vú hiếm nhất thế giới, có lẽ còn tồn tại chưa đến 300 con.

  •  Tôi Tài Giỏi!
  • 82 bài viết
  • 68 cảm ơn
  • Quản đốc
  • Last active: 09/06/2013 04:19 PM
  • Joined: 23/06/2012

Hình gởi hèn gì


Hèn gì sao bạn?

  •  Tôi Tài Giỏi!
  • 82 bài viết
  • 68 cảm ơn
  • Quản đốc
  • Last active: 09/06/2013 04:19 PM
  • Joined: 23/06/2012
_Rùa biển và rùa cạn:
+Là loài bò sát sống bên trong v3 cứng che chở. Cùng với rùa nước ngọt (terrapin), chúng tạo thành 1 nhóm gọi là chelonian (động vật loài rùa).
+Tấm chắn bảo vệ trên lưng con rùa được gọi là "mai" (carapace). Miếng bảo vệ dẹt ở bụng đc gọi là "yếm rùa" (plastron).
+Phần lớn rùa biển và rùa cạn ăn thảo mộc và các động vật li ti. Chúng không có răng, chỉ có hàm với mép hàm rất sắc bén.
+Rùa cạn sống chủ yếu ở những vùng khô, nóng và sẽ ngủ Đông nếu đc mang về 1 quốc gia có khí hậu lạnh.
+Rùa biển và rùa cạn có tuổi thọ rất cao. Một con rùa cạn đc phát hiện vào năm 1766 ở Mauritius sống 120 năm.
+Con rùa cạn khổng lồ có thể phát triển chiều dài tới 1 thước rưỡi.
+Rùa luýt (leatherback) phát triển chiều dài tới 2 thước rưỡi và cân nặng hơn 800 kí.
+Cứ mỗi 3 năm, những con rùa biển xanh lục tụ tập lại để bơi hàng ngàn cây số tới đảo Ascension ở miền Trung Đại Tây Dương, nơi chúng đẻ trứng trên bờ dưới ánh trăng thuy triều lúc cao nhất. Chúng vùi trứng trong cát, đc ủ bằng sức nóng mặt trời cho đến khi nở.
+Rùa biển có đốm chủ yếu là sống và ăn trong nước. Nó ăn cá, loài ốc sên trong nước và các động vật khác.
+Rùa cạn khổng lồ đã từng đc nuôi trên tàu để cung cấp thịt tươi cho những chuyến đi xa.

  •  Tôi Tài Giỏi!
  • 82 bài viết
  • 68 cảm ơn
  • Quản đốc
  • Last active: 09/06/2013 04:19 PM
  • Joined: 23/06/2012
_Chim bói cá:
+Loài chim bói cá thường làm tổ ở cuối 1 con đường hầm dài 60cm mà nó đào ở bờ sông. Con cái đẻ từ 4-8 trứng.
+Chim bói cá Pigmy châu Phi nhỏ li ti đào vào đám cỏ, nơi nó bắt châu chấu và bọ cánh cứng.
+Khoảng 86 loài chim bói cá đã đc tìm thấy trên TG, ngoại trừ các vùng miền Bắc xa xôi.
+Chim bói cá khổng lồ của châu Phi và chim bói cá rất lớn của Australia (laughing kookaburra) là những loài chim lớn nhất trong họ bói cá với độ dài khoảng 45cm.
+
Loài chim bói cá ấp trứng khoảng 19-21 ngày và nuôi con trong vòng 4 tuần.
+Loài bói cá mỏ xẻng (shovel billed kingfisher) dùng cái mỏ dày và nặng để đào trùng, tôm, cua, sò, hến và loài bò sát nhỏ.
+Trong các khu rừng
của New Guinea, chim bói cá seo cờ đực khoe bộ lông đuôi dài với con mái như là một phần của màn trình diễn ve vãn.
+Chim bói cá rất lớn của Australia có tên Laughing Kookaburra là do tiếng kêu của nó giống như tiếng cười ồn ào. Nó kêu để đòi lãnh thổ. Khi có một con chim khởi xướng, những con khác thường tham gia vào.
+Ở miền Bắc Australia, những gò mối đc nhận là nơi làm tổ của loài chim bói cá có ức màu da bò.

Bài viết này đã được chỉnh sửa bởi duongnguyet: 08/10/2012, 12:25 PM


  •  Tôi Tài Giỏi!
  • 82 bài viết
  • 68 cảm ơn
  • Quản đốc
  • Last active: 09/06/2013 04:19 PM
  • Joined: 23/06/2012
_Cá hồi:
+Cá hồi (Salmon) là tên chung cho nhiều loài cá thuộc họ Salmonidae. Nhiều loại cá khác cùng họ được gọi là trout (cá hồi); sự khác biệt thường được cho là cá hồi salmon di cư còn cá hồi trout không di cư, nhưng sự phân biệt này không hoàn toàn chính xác. Cá hồi sống dọc các bờ biển tại cả Bắc Đại Tây Dương (các họ di cư Salmo salar) và Thái Bình Dương (khoảng sáu họ của giống Oncorhynchus), và cũng đã từng được đưa tới Hồ lớn ở Bắc Mỹ. Cá hồi được sản xuất nhiều trong ngành nuôi trồng thủy sản ở nhiều nơi trên thế giới.Thuật ngữ salmon xuất xứ từ chữ La tinh salmo, và chữ này lại có gốc từ salire, có nghĩa "nhảy". Có chín loài cá hồi thương mại quan trọng, thuộc hai giống. Giống thứ nhất Salmo, có cá hồi Đại Tây Dương, có ở Bắc Đại Tây Dương. Giống thứ hai, Oncorhynchus, gồm tám loài chỉ có trong tự nhiên tại Bắc Thái Bình Dương. Cũng có một họ cá hồi Trung Quốc được đưa vào New Zealand. Theo nhóm chúng được gọi là cá hồi Thái Bình Dương.

Cá hồi Thái Bình Dương và Đại Tây Dương

Họ

Tên thường gọi

Tên khoa học

Chiều dài
tối đa

Chiều dài
thông thường

Trọng lượng
tối đa

Tuổi thọ
tối đa

Cá hồi
(Cá hồi Đại Tây Dương)

Cá hồi Đại Tây Dương

Salmo salar Linnaeus, 1758

150 cm

120 cm

46.8 kg

13 năm

Oncorhynchus
(Cá hồi Thái Bình Dương)

Cá hồi Chinook

Oncorhynchus tshawytscha (Walbaum, 1792)

150 cm

70 cm

61.4 kg

9 năm

Cá hồi Chum

Oncorhynchus keta (Walbaum, 1792)

100 cm

58 cm

15.9 kg

7 năm

Coho salmon

Oncorhynchus kisutch (Walbaum, 1792)

108 cm

71 cm

15.2 kg

5 năm

Cá hồi hồng

Oncorhynchus gorbuscha (Walbaum, 1792)

76 cm

50 cm

6.8 kg

3 năm

Cá hồi Sockeye

Oncorhynchus nerka (Walbaum, 1792)

84 cm

58 cm

7.7 kg

8 năm

Steelheadvì nó là "một con cá hồi"[cần dẫn nguồn]
(rainbow trout)


Oncorhynchus mykiss (Walbaum, 1792)

79.0 cm

cm

10.0 kg

năm

Cá hồi Masu

Oncorhynchus masou (Brevoort, 1856)

79.0 cm

cm

10.0 kg

năm

+

Cả giống SalmoOncorhynchus đều gồm một số loài được gọi là trout. Trong Salmo cũng có các taxa nhỏ phụ mà trong tiếng Anh đã được gọi là cá hồi, ví dụ cá hồi Adriatic (Salmo obtusirostris) và cá hồi biển Đen (Salmo labrax).


Các loài cá khác được gọi là cá hồi
Cũng có một số loài khác có tên thường gọi là cá hồi. Trong số các loài được liệt kê dưới đây, cá hồi Danube hay huchen là một họ cá hồi nước ngọt lớn liên quan tới cá hồi ở trên, nhưng những loài khác là cá biển thuộc nhóm perciform không liên quan:

Một số loài cá khác được gọi là cá hồi

Tên thường gọi

Tên khoa học

Chiều dài
tối đa

Chiều dài
thông thường

Trọng lượng
tối đa

Tuổi thọ
tối đa

Bậc
thức ăn

Cá hồi Danube

Hucho hucho (Linnaeus, 1758)

150 cm

70 cm

52 kg

15 năm

4.2

Cá hồi Ấn Độ

Eleutheronema tetradactylum (Shaw, 1804)

200 cm

50 cm

145 kg

năm

4.4

Cá hồi Hawaii

Elagatis bipinnulata (Quoy & Gaimard, 1825)

180 cm

90 cm

46.2 kg

năm

3.6

Cá hồi Australia

Arripis trutta (Forster, 1801)

89 cm

47 cm

9.4 kg

26 năm

4.1

Eosalmo driftwoodensis, hóa thạch cá hồi cổ nhất trong hồ sơ hóa thạch, đã giúp các nhà khoa học xác định các các loài cá hồi phân rẽ từ một tổ tiên chung. Hóa thạch cá hồi British Columbia cung cấp bằng chứng rằng sự phân rẽ giữa cá hồi Thái Bình Dương và Đại Tây Dương chưa xảy ra ở thời điểm 40 triệu năm trước. Cả hồ sơ hóa thạch và phân tích mitochondrial DNA cho thấy sự phân rẽ chỉ xảy ra 10 tới 20 triệu năm trước. Bằng chứng độc lập này từ phân tích DNA và hóa thạch đã bác bỏ lý thuyết phân rẽ cá hồi thời kỳ băng hà.

  • Cá hồi Đại Tây Dương, (Salmo salar) sinh sản tại những dòng sông phía bắc ở cả hai bờ Đại Tây Dương.
  • Cá hồi lục địa (Salmo salar m. sebago) sống tại một số hồ ở phía đông Bắc Mỹ và Bắc Âu, ví dụ tại các hồ Onega, Ladoga, SaimaaVänern. Chúng không phải là một loài khác với cá hồi Đại Tây Dương, nhưng đã tiến hóa độc lập một chu kỳ sống không di cư, và chúng vẫn duy trì nó thậm chí khi có thể đi ra biển.
  • Cá hồi Masu hay cherry salmon (Oncorhynchus masou) chỉ được tìm thấy ở tây Thái Bình Dương tại Nhật Bản, Triều Tiên và Nga. Cũng có các phụ loài sống trong lục địa được gọi là cá hồi Đài Loan hay cá hồi Formosan (Oncorhynchus masou formosanus) ở Suối Chi Chia Wan miền trung Đài Loan.
  • Cá hồi Chinook (Oncorhynchus tshawytscha) cũng được gọi là cá hồi vua hay cá hồi miệng đen ở Mỹ, và là cá hồi xuân ở British Columbia. Cá hồi Chinook là loài cá hồi Thái Bình Dương lớn nhất, thường vượt quá 30 lb (14 kg) Cái tên Tyee được dùng ở British Columbia để chỉ cá hồi Chinook hơn 30 pound, và tại lưu vực sông Sông Columbia những con cá hồi Chinook đặc biệt lớn được gọi là June Hogs. Cá hồi Chinook được biết có thể bơi đến tận Sông Mackenzie và Kugluktuk ở miền trung vòng bắc cực Canada,và xa tới tận miền nam Bờ biển Trung California.
  • Cá hồi Chum (Oncorhynchus keta) được biết đến như một loại cá hồi dog, keta, hay calico ở nhiều vùng tại Mỹ. Loài này có tầm hoạt động địa lý rộng nhất trong các loài cá hồi Thái Bình Dương: phía nam tới tận Sông Sacramento ở California và đông Thái Bình Dương và đảo Kyūshū tại Biển Nhật Bản ở phía tây Thái Bình Dương; phía bắc tới Sông Mackenzie ở Canada, phía đông tới Sông Lena, phía tây tới Siberia.
  • Cá hồi Coho (Oncorhynchus kisutch) cũng được gọi là cá hồi bạc ở Mỹ. Loài này được tìm thấy ở tất cả các vùng nước ven biển Alaska và British Columbia và ở phía nam xa tới tận miền trung California (Vịnh Monterey). Nó cũng xuất hiện, dù không thường xuyên, tại Sông Mackenzie.
  • Cá hồi hồng (Oncorhynchus gorbuscha), được gọi là cá gù ở đông nam và tây nam Alaska, được thấy ở miền bắc California và Triều Tiên, trên toàn vùng bắc Thái Bình Dương, và từ Sông Mackenzie[ ở Canada tới Sông Lena ở Siberia, thường tại những dòng suối bờ biển ngắn. Nó là loài cá hồi Thái Bình Dương nhỏ nhất, với trọng lượng trung bình .
  • Cá hồi Sockeye (Oncorhynchus nerka) cũng được gọi là cá hồi đỏ ở Mỹ. Loài cá được nuôi ở hồ này có ở miền nam xa tới tận Sông Klamath ở California ở phía đông Thái Bình Dương và bắc đảo Hokkaidō tại Nhật Bản và ở phía tây Thái Bình Dương xa tới tận Vịnh BathurstVòng Bắc Cực Canada ở phía đông và Sôn Anadyr tại Siberia ở phía tây. Dù hầu hết cá hồi Thái Bình Dương trưởng thành ăn các loại cá nhỏ, tôm và mực ống; sockey ăn sinh vật phù du được chúng lọc qua những khe mang. Cá hồi Kokanee là loại cá sockeye sống trong lục địa.
  • Cá hồi Danube hay huchen (Hucho hucho), là loại cá thuộc dòng cá hồi lớn nhất sống thường trực tại vùng nước ngọt.


Trứng ở những giai đoạn phát triển khác nhau. Trong một số chứng chỉ vài tế bào phát triển phía trên noãn hoàn, ở phía dưới bên phải các mạch máu bao quanh noãn hoàn và ở phía trên bên trái có thể thấy những con mắt đen, thậm chí là cả thủy tinh thể nhỏ



Cá hồi đang phát triển — cá con đã lớn quanh phần còn lại của noãn hoàn — những phần nhìn thấy là các động mạch quanh moãn hoàn và những giọt dịch nhỏ cũ, cả ruột, xương sống, mạch máu đuôi chính, bàng quang và các cung của mang

Trứng cá hồi được đẻ tại những dòng suối nước ngọt thông thường ở nơi có độ cao lớn. Trứng phát triển thành cá bột hay sac fry. Cá mới nở nhanh chóng phát triển thành cá con với những dải ngụy trang dọc. Cá con ở lại dòng suối quê hương trong sáu tháng tới ba năm trước khi trở thành cá non, được phân biện bởi màu sáng bạc với các vảy có thể dễ dàng bóc. Ước tính chỉ 10% trứng cá hồi sống sót tới giai đoạn này. Tính chất hóa học cơ thể của cá con thay đổi, cho phép chúng sống trong nước mặn. Cá hồi con dành một phần thời gian di cư để sống ở vùng nước lợ, tính chất hóa học cơ thể của chúng trở nên quen thuộc với điều kiện thẩm thấu tại đại dương.

Cá hồi dành khoảng một tới năm năm (tùy theo loài) ở biển khơi nơi chúng dần trưởng thành về giới tính. Cá hồi trưởng thành sau đó đa số quay lại dòng suối quê hương để đẻ trứng. Tại Alaska, sự trao đổi chéo với dòng suối khác cho phép cá hồi tới sinh sống tại những dòng suối mới, như những con cá xuất hiện khi một sông băng rút lui. Phương pháp chính xác cá hồi dùng để định hướng vẫn chưa được xác định, dù khứu giác tốt của chúng có liên quan. Cá hồi Đại Tây Dương dành từ một tới bốn năm ở biển. (Khi một con cá quay về sau chỉ một năm sống ở biển được gọi là grilse ở Canada, Anh và Ireland.) Trước khi đẻ trứng, tùy thuộc theo loài, cá hồi trải qua sự thay đổi. Chúng có thể phát triển một cái bướu, mọc răng nanh, phát triển một bướu gù (một sự uốn cong của hàm ở cá hồi đực). Tất cả sẽ chuyển từ màu xanh bạc của cá nước ngọt ra sống ở biển sang một màu tối hơn. Cá hồi có thể thực hiện những chuyến đi đáng kinh ngạc, thỉnh thoảng di chuyển hàng trăm dặm ngược dòng nước chảy nhanh và mạnh để đẻ trứng. Ví dụ, cá hồi Chinook và sockeye từ miền trung Idaho di chuyển 900 dặm (1.400 km) và lên cao xấp xỉ 7.000 foot (2.100 m) từ Thái Bình Dương khi chúng quay về để đẻ trứng. Sức khỏe của chúng kém đi khi chúng càng sống lâu trong nước ngọt, và càng kém nữa saiu khi chúng đẻ trứng, khi chúng được gọi là kelts. Ở mọi loài cá hồi Thái Bình Dương, các cá nhân trưởng thành chết trong vòng vài ngày hay vài tuần sau khi đẻ trứng, một đặc điểm được gọi là semelparity. Khoảng 2% tới 4% cá hồi Đại Tây Dương cái sống sót để đẻ trứng lần nữa. Tuy nhiên, ở những loài cá hồi có thể đẻ trứng hơn một lần này (iteroparity), tỷ lệ chết sau khi đẻ khá cao (có lẽ lên tới 40 tới 50%.)

Để đẻ bọc trứng, cá hồi cái dùng đuôi (vây đuôi), để tạo một vùng áp suất thấp, khiến sỏi trôi xuôi dòng, tạo một hố lõm nông, được gọi là một redd. Redd có thể thỉnh thoảng chứa 5,000 trứng rộng 30 foot vuông (2,8 m2). Trứng thường có màu cam tới đỏ. Một hay nhiều con đực bơi cạnh con cái, phun tinh trùng, hay milt, lên trứng. Sau đó con cái đẩy sỏi phía đầu dòng phủ trứng trước khi bơi đi tạo một redd khác. Con cái sẽ làm thậm chí tới bảy redd trước khi hết trứng.[

Mỗi năm, con cá trải qua một giai đoạn phát triển nhanh, thường vào mùa hè, và một giai đoạn phát triển chậm, thường vào mùa đông. Việc này tạo ra các hình vòng tròn quanh xương tai được gọi là otolith, (annuli) tương tự với các vòng tăng trưởng ở thân cây. Giai đoạn tăng trưởng ở nước ngọt là những vòng dày đặc, giai đoạn tăng trưởng ở biển là những vòng rộng; việc đẻ trứng được đánh dấu bằng sự ăn mòn đáng kể khi khối lượng cơ thể được chuyển thành trứng và tinh dịch.

Các dòng suối nước ngọt và các cửa sông cung cấp môi trường sống quan trọng cho nhiều loài cá hồi. Chúng ăn cả côn trùng sống trên cạn, côn trùng sống dưới nướccôn trùng lưỡng cư, và các loại giáp xác khi còn nhỏ, và chủ yếu ăn các loại cá khác khi lớn. Trứng được đẻ ở những vùng nước sâu hơn với những viên sỏi lớn hơn, và cần nước mạt và dòng chảy mạnh (để cung cấp ôxi) để phôi phát triển. Tỷ lệ chết ở cá hồi trong những giai đoạn sống đầu tiên thường cao vì bị ăn thịt tự nhiên và những thay đổi do con người tác động tới môi trường sống của chúng, như sự lắng bùn, nhiệt độ nước cao, tập trung ôxi thấp, mất các lùm cây tại suối, và giảm tốc độ dòng chảy của sông. Các cửa sông và các vùng đất ướt gần chúng cung cấp môi trường phát triển sống còn cho cá hồi trước khi di cư ra biển khơi. Các vùng đất ướt không chỉ là nơi đệm cho cửa sông khỏi phù sa và các chất ô nhiễm, mà còn là những khu vực sinh sống và ẩn nấp quan trọng.

Cá hồi không bị chết bởi các phương tiện khác đối mặt với tình trạng giảm sút sức khỏe tăng tốc rất nhanh (phenoptosis, hay "tình trạng già hóa đã được lập trình") ở cuối đời. Thân thể chúng nhanh chóng bị phân rã ngay sau khi đẻ trứng, là hậu quả của việc giải phóng những lượng lớn corticosteroid.





  •  Tôi Tài Giỏi!
  • 82 bài viết
  • 68 cảm ơn
  • Quản đốc
  • Last active: 09/06/2013 04:19 PM
  • Joined: 23/06/2012

Nấm
Giới Nấm (tên khoa học: Fungi) bao gồm những sinh vật nhân chuẩn tự dưỡngthành tế bào bằng kitin (chitin). Phần lớn nấm phát triển dưới dang các sợi đa bào được gọi là sợi nấm (hyphae) tạo nên hệ sợi (mycelium), một số nấm khác lại phát triển dưới dạng đơn bào. Quá trình sinh sản (hữu tính hoặc vô tính) của nấm thường qua bào tử, được tạo ra trên những cấu trúc đặc biệt hay thể quả. Một số loài lại mất khả năng tạo nên những cấu trúc sinh sản đặc biêt và nhân lên qua hình thức sinh sản sinh dưỡng.

Những đại diện tiêu biểu của nấm là nấm mốc, nấm mennấm lớn (nấm quả thể). Giới Nấm là nhóm sinh vật đơn ngành (monophyletic) mà có nguồn gốc hoàn toàn khác biệt với những sinh vật có hình thái tương tự như nấm nhầy (myxomycetes) hay mốc nước (oomycetes). Nấm có mối quan hệ gần với động vật hơn thực vật, cho dù thế thì môn học về nấm, hay nấm học, lại thường được xếp vào thành một nhánh của thực vật học.

Trên Trái Đất, đa phần các nấm đều không thể nhìn thấy được bằng mắt thường, chúng sống phần lớn ở trong đất, chất mùn, xác sinh vật chết, cộng sinh hoặc kí sinh trên cơ thể động, thực vật và nấm khác. Vi nấm đóng một vai trò quan trọng trong hệ sinh thái, chúng phân hủy các vật chất hữu cơ và không thể thiếu được trong chu trình chuyển hóa và trao đổi vật chất. Một số loài nấm có thể nhận thấy được khi ở dạng thể quả, như nấm lớn và nấm mốc. Nấm được ứng dụng rất rộng rãi trong đời sống lẫn sản xuất, nhiều loài được sử dụng trong công nghệ thực phẩm, sử dụng làm thức ăn hoặc trong quá trình lên men. Nấm còn được dùng để sản xuất chất kháng sinh, hoóc môn trong y học và nhiều loại enzym. Tuy vậy, nhiều loại nấm lại có chứa các chất hoạt động sinh học được gọi là mycotoxin, như ancaloitpolyketit, là những chất độc đối với động vật lẫn con người. Một số loại nấm được sử dụng để kích thích hoặc trong các nghi lễ truyền thống với vai trò tác động lên trí tuệ và hành vi của con người. Vài loại nấm có thể gây ra các chứng bệnh cho con người và động vật, cũng như bệnh dịch cho cây trồng, mùa màng và có thể gây tác động lớn lên an ninh lương thựckinh tế.


Sự đa dạng
Nấm phân bố trên toàn thế giới và phát triển ở nhiều dạng môi trường sống khác nhau, kể cả sa mạc. Đa phần nấm sống ở trên cạn, nhưng một số loài lại chỉ tìm thấy ở môi trường nước. Nấm và vi khuẩn là những sinh vật phân huỷ chính có vai trò quan trọng đối với các hệ sinh thái trên cạn trên toàn thế giới. Dựa theo sự theo tỉ lệ giữa số loài nấm với số loài thực vật ở trong cùng một môi trường, người ta ước tính giới Nấm có khoảng 1,5 triệu loài. Khoảng 70.000 loài nấm đã được các nhà phân loại học phát hiện và miêu tả, tuy nhiên kích cỡ thực sự của tính đa dạng của giới Nấm vẫn còn là điều bí ẩn. Đa phần nấm phát triển dưới dạng các sợi đa bào gọi là sợi nấm, cấu tạo nên thể sợi (hay khuẩn ty), trong khi những loài khác thì lại phát triển dưới dạng đơn bào. Cho đến gần đây, nhiều loại nấm đã được miêu tả dựa trên những đặc điểm hình thái, như kích cỡ và hình dạng các bào tử hay thể quả, hay dựa trên khái niệm loài sinh vật với sự trợ giúp của các công cụ phân tử, như phương pháp Dideoxy, đã gia tăng mạnh cách thức và khả năng ước tính sự đa dạng của nấm trong phạm vi các nhóm phân loại khác nhau.

Dù không dễ thấy, nhưng nấm lại có mặt ở tất cả các môi trường trên Trái Đất và đóng một vai trò rất quan trọng trong hệ sinh thái. Cùng với vi khuẩn, nấm là sinh vật phân hủy chính ở hầu hết các hệ sinh thái trên cạn (và có thể dưới nước), bởi vậy nên chúng cũng có vai trò quan trọng các chu trình sinh địa hóa và ở nhiều lưới thức ăn. Khi sống hoại sinh hay cộng sinh, chúng phân hủy những vật chất hữu cơ thành những phân tử vô cơ, rồi sau đó những chất này sẽ được đồng hóa ở thực vật hay những sinh vật khác [8][9].


Cộng sinh
Nấm có mối quan hệ cộng sinh với hầu hết tất cả các giới.Quan hệ của chúng có thể hỗ trợ hoặc đối nghịch nhau, hay với những nấm hội sinh thì không đem lại bất cứ lợi ích hay tác hại rõ ràng nào đối với vật chủ.


Với thực vậtfile:///C:DOCUME~1WelcomeLOCALS~1Tempmsohtml11clip_image001.gif
Nấm rễ là một hình thức cộng sinh giữa thực vật và nấm, chia làm hai loại: nấm rễ trong (endomycorrhiza, tức nấm kí sinh đơn bào sống bên trong tế bào rễ cây) và nấm rễ ngoài (ectomycorrhiza, tức rễ của nấm bám dày đặc xung quanh đầu rễ cây và xâm nhập vào giữa các tế bào rễ cây). Đây là quần hợp nấm-thực vật được biết nhiều nhất và đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của thực vật cũng như nhiều hệ sinh thái, hơn 90% các loài thực vật có quan hệ với nấm theo hình thức nấm rễ và phụ thuộc vào mối quan hệ này để tồn tại .Sự cộng sinh nấm rễ đã có lịch sử xa xưa, ít nhất là từ hơn 400 triệu năm về trước. Chúng thường làm tăng khả năng hấp thu các hợp chất vô cơ của thực vật, như nitratphotphat, từ những đất có nồng độ những nguyên tố thiết yếu thấp. Ở một số nấm rễ, thành phần nấm có thể đóng vai trò trung gian giữa thực vật với thực vật, vận chuyển carbohydrate và các chất dinh dưỡng khác. Những cộng đồng nấm rễ đó được gọi là "mạng lưới nấm rễ chung". Một số nấm có khả năng kích thích sự sinh trưởng của cây bằng cách tiết ra các hoóc môn thực vật như axít idolaxetic (IAA).

Địa y là dạng cộng sinh giữa nấm (hầu hết các loài nấm nang và một số nấm đảm) với tảo hay vi khuẩn lam (gọi chung là đối tác quang hợp), trong đó những tế bào quang hợp được gắn vào những nấm. Giống với nấm rễ, những đối tác quang hợp sẽ cung cấp cacbohyđrat được tạo ra trong quá trình quang hợp, đổi lại nấm cung cấp cho chúng các chất khoáng và nước. Những chức năng của toàn bộ cơ thể địa y gần như giống hệt với một cơ thể đơn độc. Địa y là những sinh vât tiên phong và xuất hiện ở những nơi nguyên thủy như đá tảng hay nham thạch núi lửa đã nguội. Chúng có thể thích nghi cực tốt với những điều kiện khắc nghiệt như giá lạnh hay khô hạn và là những ví dụ tiêu biểu nhất của sự cộng sinh.

Một số loài nấm sống trong cây có thể tiết ra những độc tố nấm để ngăn cản những động vật ăn cỏ ăn vật chủ của chúng.


Với côn trùng
Nhiều côn trùng có mối quan hệ hỗ trợ với nhiều loại nấm. Vài loại kiến trồng những loài nấm thuộc bộ Nấm mỡ (Agaricales) để làm nguồn thức ăn chính, trong khi đó những loài bọ cánh cứng Ambrosia trồng nhiều loài nấm trong lớp vỏ cây mà chúng cư trú. Loài mối ở xavan châu Phi cũng được biết có khả năng trồng nấm.


Mầm bệnh và kí sinh
Tuy vậy, nhiều loại nấm lại kí sinh trên thực vật, động vật (cả con người) và nấm khác. Những loài nấm gây bệnh trên cây trồng có thể gây thiệt hại rộng lớn cho ngành nông nghiệp và lâm nghiệp, ví dụ như nấm đạo ôn (Magnaporthe oryzae) gây bệnh cho lúa, Ophiostoma ulmiOphiostoma novo-ulmi gây ra bệnh du Hà Lan, còn Cryphonectria parasitica là nguyên nhân của bệnh thối cây dẻ. Những loài gây bệnh cho cây thuộc các chi Fusarium, Ustilago, AlternariaCochliobolus, còn những loài có khả năng gây bệnh cho người lại thuộc các chi như Aspergillus, Candida, Cryptoccocus, HistoplasmaPneumocystis . Chúng có thể gây ra những bệnh ngoài da ở người như nấm chân hay hắc lào cho đến những bệnh nguy hiểm có thể gây chết người như viêm màng não (nấm Cryptococcus neoformans) hay viêm phổi. Nấm gây ra nhiều bệnh cơ hội, tức những bệnh tấn công những người bị suy giảm miễn dịch, trong đó có những người bị HIV/AIDS, ví dụ như bệnh candidiasis (nấm Candida, gây ra chứng lở miệng ở trẻ em và âm đạo phụ nữ), histoplasmosis (Histoplasma capsulatum), cryptococcosis (Cryptococcus neoformans), aspergillosis (Aspergillus), coccidioidomycosis (Coccidioides immitis hay C. posadasii), viêm phổi pneumocystis (Pneumocystis jirovecii)... và rất nhiều bệnh khác .

Có khoảng 70 loài nấm sinh bào tử là những tác nhân gây dị ứng. Chúng có thể là nấm mốc trong nhà hay ngoài trời, đa phần là nấm sợi như các chi Alternaria, Aspergillus, Cladosporium, Helminthosporium, Epicoccum, Penicillium, Fusarium..., chỉ có vài loài là nấm đơn bào như Candida, Rhodotorula, có một số loài là nấm lớn như Agaricus, Coprinus, Fomes, Ganoderma... Bào tử nấm có thể gây ra những chứng như hen suyễn, viêm mũi dị ứng, các bệnh nấm dị ứng phế quản phổi và viêm phổi quá mẫn


Săn mồi
Một số loài nấm là những kẻ săn giun tròn. Chúng có thể biến đổi sợi nấm để tạo thành những cấu trúc đặc biệt có chức năng bẫy giun tròn, nên được gọi với tên chung là nấm bẫy mồi .Những loại bẫy thường thấy là: mạng dính hay lưới dính, bọng dính, vòng không thắt, cột dính, vòng thắt và bào tử dính.Các loài nấm bắt mồi theo kiểu này thường thuộc các chi Arthrobotrys, Dactylaria, DactylellaTrichothecium .Có vài loài như Zoopage phanera thì lại tiết chất dính ra toàn bộ mặt ngoài sợi nấm và cũng có khả năng bẫy mồi tương tự.



  •  Tôi Tài Giỏi!
  • 82 bài viết
  • 68 cảm ơn
  • Quản đốc
  • Last active: 09/06/2013 04:19 PM
  • Joined: 23/06/2012
_Hoa hồng:
Hồng
hay hường là tên gọi chung cho các loài thực vật có hoa dạng cây bụi hoặc cây leo lâu năm thuộc chi Rosa, họ Rosaceae, với hơn 100 loài với màu hoa đa dạng, phân bố từ miền ôn đới đến nhiệt đới. Các loài này nổi tiếng vì hoa đẹp nên thường gọi là hoa hồng. Đa phần có nguồn gốc bản địa châu Á, số ít còn lại có nguồn gốc bản địa châu Âu, Bắc Mỹ, và Tây Bắc Phi. Các loài bản địa, giống cây trồngcây lai ghép đều được trồng làm cảnh và lấy hương thơm.Đôi khi các loài này được gọi là tường vi.
Hình thái
Đây là các cây bụi mọc đứng hoặc mọc leo, thân và cành có gai. Lá kép lông chim lẻ, lá chét khía răng, có lá kèm. Hoa thơm, màu sắc đa dạng: hồng, trắng, vàng hay đỏ... Hoa thường có nhiều cánh do nhị đực biến thành. Đế hoa hình chén. Quả bế, tụ nhau trong đế hoa dày lên thành quả.


Các loài
Dưới đây là một số loài hồng tiêu biểu

Hoa hồng trong văn hóa
Với vẻ đẹp, hình dáng và hương thơm nổi bật, hoa hồng là hoa biểu trưng hay được dùng nhất ở phương Tây, tương ứng trong tổng thể với hình tượng hoa senchâu Á, cả hai đều gần gũi với biểu tượng bánh xe. Trong văn hóa Ấn Độ, bông hồng vũ trụ Triparasundari được dùng làm vật đối chiếu với vẻ đẹp của người Mẹ thánh thần, biểu thị một sự hoàn mĩ trọn vẹn và không có thiếu sót. Bên cạnh đó, hoa hồng còn tượng trưng cho phần thưởng cuộc sống, tâm hồn, trái tim, tình yêu, và có thể được chiêm ngưỡng như một mandala.

Trong hệ tranh tượng Kitô giáo, hoa hồng hoặc là cái chén hứng máu của Chúa Kitô, hoặc là sự hóa thân của những giọt máu này và thậm chí, là chính vết thương của Chúa.

Hình hoa hồng gô-thích và hoa hồng hướng gió (hình hoa hồng 32 cánh ứng với 32 hướng gió) đánh dấu bước chuyển của xu hướng biểu trưng của hoa hồng sang xu hướng biểu trưng bánh xe.

Saadi de Chiraz trong đạo Hồi quan niệm vườn hoa hồng là vườn của sự quán tưởng.

Trong văn hóa phương Tây, hoa hồng, bởi sự tương hợp với màu máu chảy, thường xuất hiện như là biểu tượng của sự phục sinh huyền bí. Abd Ul Kadir Gilani so sánh hoa hồng với những vết sẹo trên cơ thể sống, trong khi đó F. Portal quan niệm hoa hồng vào màu hồng hợp thành một biểu tượng của sự tái sinh do có quan hệ gần gũi ngữ nghĩa của từ latinh rosa (hoa hồng) với ros (mưa, sương). Với người Hy Lạp hoa hồng vốn là một loài hoa màu trắng, nhưng khi Adonis bị tử thương, nữ thần Aphorodite chạy đến cứu chàng đã bị đâm phải một cái gai và máu đã nhuộm thẫm những bông hồng cung tiến nàng. Chính ý nghĩa biểu trưng về sự tái sinh đã khiến con người, từ thời cổ đại, đặt những bông hồng lên các nấm mộ, và Hecate, nữ thần âm phủ đôi khi được thể hiện với hình ảnh đầu quấn một vòng hoa hồng có 5 lá.

Theo Bède, ở thế kỷ VII mộ của Chúa Giêxu được sơn một màu pha lẫn trắng và đỏ. Hai yếu tố tạo thành màu của hoa hồng này, màu trắng và màu đỏ, với giá trị biểu trưng truyền thống của chúng phản ánh các bình diện từ trần tục đến thiêng liêng, trong sự khác nhau ứng với sự dâng tặng những bông hồng trắng hay đỏ.

Hoa hồng đã trở thành biểu tượng của tình yêu và còn hơn thế, của sự dâng hiến tình yêu, của tình yêu trong trắng, tương tự ý nghĩa của hoa sen Ai Cập và cây thủy tiên Hy Lạp.

Dù là màu trắng hay màu đỏ, hoa hồng cũng đều được các nhà luyện đan ưa chuộng hơn cả, mà những chuyên luận của họ thường mang những tiêu đề như "Những cây hồng của các nhà triết học". Trong khi đó, hoa hồng màu lam lại biểu tượng của cái bất khả, cái không thể đạt tới.



  •  Tôi Tài Giỏi!
  • 82 bài viết
  • 68 cảm ơn
  • Quản đốc
  • Last active: 09/06/2013 04:19 PM
  • Joined: 23/06/2012

Ngành Thông
Các bộ & họ

Cordaitales
Pinales
Pinaceae - Họ Thông
Araucariaceae - Họ Bách tán
Podocarpaceae - Họ Kim giao
Sciadopityaceae - Họ Thông dù
Cupressaceae - Họ Hoàng đàn
Cephalotaxaceae - Họ Đỉnh tùng
Taxaceae - Họ Thanh tùng


Tên đồng nghĩa

Coniferophyta
Coniferae


Ngành Thông (danh pháp khoa học: Pinophyta) nhiều tài liệu tiếng Việt cũ còn gọi là ngành Hạt trần (Gymnospermae),gồm các loài cây thân gỗ lớn hoặc nhỡ, ít khi là cây bụi hoặc dây leo thân gỗ. Lá hình vảy, hình kim, hình dải, ít khi hình quạt, hình trái xoan hoặc hình lông chim.

Cơ quan sinh sản thường đơn tính, có cấu tạo nón khác với cấu tạo hoa, gồm các lá bào tử xếp xoắn ốc hoặc xếp vòng trên một trục ngắn có dạng nón. Thụ phấn nhờ gió, ít khi nhờ côn trùng. Lá noãn mở không bao hạt, mang một đến nhiều lá noãn ở nách hoặc mép. Hạt có phôi thẳng, mang một đến nhiều lá mầm.

Gỗ tương đối mềm, chỉ có quản bào chưa có mạch gỗ và sợi gỗ.


Nguồn gốc tiến hóa
Thực vật ngành Thông phát sinh từ kỷ Devon trong đại Cổ Sinh, phát triển mạnh ở kỷ Than đá, kỷ Permi và giảm dần từ kỷ Tam điệp trong đại Trung Sinh. Nhiều loài hiện đã tuyệt diệt hoặc thu hẹp phạm vi phân bố. Người ta tìm thấy nhiều mẫu hóa thạch của thực vật ngành thông có niên đại các bon từ khoảng 300 triệu năm trở lại đây. Những loài còn xuất hiện ngày này cũng có hóa thạch tìm được có niên đại tới 60-120 triệu năm và người ta gọi chúng là những loài thực vật cổ.



  •  Tôi Tài Giỏi!
  • 82 bài viết
  • 68 cảm ơn
  • Quản đốc
  • Last active: 09/06/2013 04:19 PM
  • Joined: 23/06/2012
Phượng vĩ
Phượng hay phượng vĩ, phượng vỹ, xoan tây, điệp tây hoặc hoa nắng, (họ Fabaceae), là một loài thực vật có hoa sinh sống ở vùng nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới. Tên gọi trong tiếng Trung của nó là 鳳凰木 (phượng hoàng mộc), 金鳳 (kim hoàng). Tên thông dụng trong tiếng Anh là: Flamboyant, Royal poinciana và Mohur tree.


Nguồn gốc, đặc điểm

Tán hoa màu đỏ/da cam rực rỡ của cây phượng vĩ cũng như tàn lá màu xanh lục sáng làm cho ta dễ nhận diện cây này.

Phượng vĩ có nguồn gốc từ Madagascar, tại đó người ta tìm thấy nó trong các cánh rừng ở miền tây Malagasy. Trong điều kiện hoang dã, nó là loài đang nguy cấp, nhưng nó được con người trồng ở rất nhiều nơi. Ngoài giá trị là cây cảnh, nó còn có tác dụng như một loài cây tạo bóng râm trong điều kiện nhiệt đới, do thông thường nó có thể cao tới một độ cao vừa phải (khoảng 5 m, mặc dù đôi khi có thể cao tới 12 m) nhưng có tán lá tỏa rộng và các tán lá dày dặc của nó tạo ra những bóng mát. Trong những khu vực với mùa khô rõ nét thì nó rụng lá trong thời kỳ khô hạn, nhưng ở những khu vực khác thì nó là loài cây thường xanh.Những quầy bán hàng dưới gốc phượng vĩ bên ngoài nhà thờ Santo Domingo, Oaxaca, Mexico

Các hoa của phượng vĩ lớn, với 4 cánh hoa tỏa rộng màu đỏ tươi hay đỏ hơi cam, dài tới 8 cm, còn cánh hoa thứ năm mọc thẳng, cánh hoa này lớn hơn một chút so với 4 cánh kia và lốm đốm màu trắng/vàng hoặc cam/vàng (cũng có khi trắng/đỏ). Thứ flavida nguồn gốc tự nhiên có hoa màu vàng (kim phượng). Quả là loại quả đậu có màu nâu sẫm khi chín, dài tới 60 cm và rộng khoảng 5 cm; tuy nhiên, các hạt riêng rẽ lại nhỏ và cân nặng trung bình chỉ khoảng 0,4 g, hạt to cỡ hai ngón tay út, hạt ăn rất bùi và ngon. Các lá phức có bề ngoài giống như lông chim và có màu lục sáng, nhạt đặc trưng. Nó là loại lá phức lông chim kép: Mỗi lá dài khoảng 30–50 cm và có từ 20 đến 40 cặp lá chét sơ cấp hay lá chét lông chim lớn, và mỗi lá chét lông chim lớn lại được chia tiếp thành 10-20 cặp lá chét thứ cấp hay lá chét con. Phượng vĩ cần khí hậu nhiệt đới hay cận nhiệt đới để phát triển tốt, nhưng nó có thể chịu được các điều kiện khô hạn và đất mặn.


Sinh trưởng
Cây tái sinh hạt và chồi đều mạnh, có thể phát triển tốt trên mọi loại địa hình: ven biển, đồi núi, trung du. Cây thuộc loại ưa sáng, mọc khoẻ, phát triển nhanh, không kén đất, rất dễ gây trồng. Tuy nhiên, nhược điểm lớn là tuổi thọ không cao: cây trồng trên đường phố chỉ 30 tuổi là đã già cỗi, thân có dấu hiệu mục rỗng, sâu bệnh, nấm bắt đầu tấn công. Còn cây trồng trong công viên, trường học thì có thể có tuổi thọ cao hơn nhưng cũng chỉ đạt 40-50 năm tuổi.


Khu vực trồng
Phượng vĩ được trồng khá phổ biến tại khu vực Caribe.

Tại Hoa Kỳ, nó được trồng ở khu vực Florida, thung lũng Rio Grande ở miền nam Texas, các sa mạc ở Arizona (đến tận Tucson, Arizona) và California, Hawaii, Puerto Rico, quần đảo VirginGuam. Nó là loài cây biểu tượng chính thức của quần đảo Bắc Mariana (CNMI).

Phượng vĩ được coi là đã thích nghi với thủy thổ ở nhiều khu vực mà người ta trồng nó, và bị coi là loài xâm hại tại Úc, một phần là do các bóng râm cũng như bộ rễ của nó đã ngăn cản sự phát triển của nhiều loài thực vật bản địa mọc dưới tán lá của nó. Nó cũng được tìm thấy tại Ấn Độ, tại đây người ta gọi nó là gulmohar.

Tại Việt Nam, Phượng vĩ được người Pháp du nhập vào trồng vào những năm cuối thế kỷ 19 tại các thành phố lớn như: Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn. Hiện nay Phượng vĩ là loài cây phổ biến của Việt Nam được trồng rộng rãi từ Bắc vào Nam trên vỉa hè, công viên, trường học.Gỗ thuộc loại trung bình, dùng trong xây dựng,đồ gỗ dân dụng, đóng hòm, xẻ ván. Cây cho vỏ và rễ làm thuốc hạ nhiệt,chống sốt.Vỏ cây có thể sắc nước uống trị sốt rét, đầy bụng, tê thấp, giảm huyết áp. Lá trị tê thấp và đầy hơi.Phượng vĩ nở hoa từ khoảng tháng 4 đến tháng 6, tùy theo khu vực.Tên "phượng vĩ" là chữ ghép Hán Việt, có nghĩa là đuôi của con chim phượng. Đây có thể là một hình thức đặt tên gọi theo cảm xúc vì các lá phượng vỹ nhất là các lá non trông giống như hình vẽ đuôi của loài chim phượng.

Bài viết này đã được chỉnh sửa bởi duongnguyet: 13/10/2012, 10:03 AM


  •  Tôi Tài Giỏi!
  • 82 bài viết
  • 68 cảm ơn
  • Quản đốc
  • Last active: 09/06/2013 04:19 PM
  • Joined: 23/06/2012

Họ Bách tán
Họ Bách tán (danh pháp khoa học: Araucariaceae) là một họ rất cổ trong số các nhóm thực vật quả nón. Họ này đạt tới sự đa dạng lớn nhất trong kỷ Jurakỷ Phấn trắng, khi mà chúng có mặt gần như khắp mọi nơi trên toàn thế giới, nhưng chủ yếu là trên siêu lục địa Gondwana. Chúng có lẽ là một trong những nguồn thức ăn quan trọng cho nhiều loài khủng long. Vào cuối kỷ Phấn trắng, khi khủng long bị tuyệt chủng thì điều tương tự cũng diễn ra với họ Araucariaceae ở Bắc bán cầu. Phấn của họ Araucariaceae bao gồm tới 40 tế bào sinh dưỡng, thay vì chỉ là 2 (phần lớn các họ khác trong bộ Thông), 4 ở họ Thông hay 10 ở họ Kim giao.

Ngày nay, họ này còn 3 chi với khoảng 41 loài, bao gồm Agathis, AraucariaWollemia, tất cả đều là hậu duện của hệ thực vật Nam Cực và phân bổ chủ yếu tại Nam bán cầu. Sự đa dạng lớn nhất ngày nay của họ này nằm ở New Caledonia (18 loài), với các loài khác có mặt tại miền nam Nam Mỹ, New Zealand, AustraliaMalesia. Tại khu vực Malesia thì chi Agathis còn kéo dài thêm một khoảng ngắn lên tới Bắc bán cầu, đạt tới vĩ độ 18° bắc ở Philippines. Tất cả các loài đều là cây thân gỗ với lá thường xanh, thông thường với một thân cây to mập và các cành mọc thành vòng xoắn cách đều. Một số loài là các cây cảnh rất phổ biến trong các khu vườn thuộc khu vực cậnm nhiệt đới, và một số loài là các loại cây lấy gỗ quan trọng, với gỗ có chất lượng cao. Một số loài có hạt có thể ăn được tương tự như các loại hạt thông và một số loài khác sản sinh ra nhựa và hổ phách có giá trị. Trong các cánh rừng mà chúng có mặt thì chúng là các loài cây vượt cao hơn cả, thông thường là các loài to lớn nhất. Cao lớn nhất là Araucaria hunsteinii, được thông báo là cao tới 89 m tại New Guinea, với một số loài khác cao tới 50–65 m.

Gỗ hóa đá của rừng hóa đá nổi tiếng ở phía đông Holbrook, Arizona là các hóa thạch của các loài trong họ Araucariaceae. Trong thời kỳ Thượng (Hậu) Trias thì khu vực này có khí hậu ẩm ướt và ôn hòa. Các cây đã bị cuốn đi từ nơi chúng mọc trong các trận lũ lụt theo mùa và tích tụ trên các bãi đất lầy vùng châu thổ đầy cát, tại đây chúng bị vùi lấp bởi phù sa và các lớp tro núi lửa theo chu kỳ và gỗ đã bị khoáng hóa. Các cây hóa thạch chủ yếu thuộc về 3 loài trong họ Araucariaceae, phổ biến nhất là Araucarioxylon arizonicum. Một số đoạn của thân cây đại diện cho các cây to lớn cho thấy chúng có thể cao trên 50 m khi còn sống.


Các chi và loài
Họ này hiện còn 3 chi với khoảng 41 loài:

  • Chi Thông caori (Agathis) có 21 loài:
    • Agathis atropurpurea - Queensland, Australia
    • Agathis australis - Thông caori, các đảo phía bắc New Zealand.
    • Agathis borneensis - miền tây Malaysia
    • Agathis corbasonii - New Caledonia
    • Agathis dammara (đồng nghĩa A. celebica) - miền đông Malaysia
    • Agathis endertii - Borneo
    • Agathis flavescens - Borneo
    • Agathis kinabaluensis - Borneo
    • Agathis labilliardieri - New Guinea
    • Agathis lanceolata - New Caledonia
    • Agathis lenticula - Borneo
    • Agathis macrophylla (đồng nghĩa A. vitiensis) - Fiji, Vanuatu
    • Agathis microstachya - Queensland, Australia
    • Agathis montana - New Caledonia
    • Agathis moorei - New Caledonia
    • Agathis orbicula - Borneo
    • Agathis ovata - New Caledonia
    • Agathis philippinensis - Philippines, Sulawesi
    • Agathis robusta - Queensland, Australia; New Guinea
    • Agathis silbae - Vanuatu
    • Agathis spathulata - New Guinea
  • Chi Bách tán (Araucaria) có 19 loài:
    • Araucaria angustifolia - Bách tán Brasil, đông nam Brasil, đông bắc Argentina.
    • Araucaria araucana - Bách tán Chile, miền trung Chile và miền tây Argentina.
    • Araucaria bernieri - New Caledonia
    • Araucaria bidwillii - miền đông Australia
    • Araucaria biramulata - New Caledonia
    • Araucaria columnaris - New Caledonia
    • Araucaria cunninghamii - miền đông Australia, New Guinea
    • Araucaria heterophylla - thông đảo Norfolk
    • Araucaria humboldtensis - New Caledonia
    • Araucaria hunsteinii - New Guinea
    • Araucaria laubenfelsii - New Caledonia
    • Araucaria luxurians - New Caledonia
    • Araucaria montana - New Caledonia
    • Araucaria muelleri - New Caledonia
    • Araucaria nemorosa - New Caledonia
    • Araucaria rulei - New Caledonia
    • Araucaria schmidii - New Caledonia
    • Araucaria scopulorum - New Caledonia
    • Araucaria subulata - New Caledonia
  • Wollemia có 1 loài là:
    • Wollemia nobilis - Thông Wollemi, có tại các rừng mưa ôn đới ở New South Wales, Australia. Hiện nay chỉ còn khoảng 100 cây, vì thế đây là loài cực kỳ nguy cấp.